Điểm báo: Cập nhập tự động hàng phút


Tiếng Việt
  Cập nhập
Tiêu đề
Webmaster
Chuyên mục
Generator
Ngôn ngữ
Lỗ hổng trong quy định Cảnh sát giao thông được “huy động phương tiện” của dân
công bó:
Tiêu đề: Thông tư 65/2020/TT-BCA ngày 19/06/2020, của Bộ Công an “Quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung và quy trình tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính về giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông” (*), có hiệu lực từ ngày 05/08/2020.

Thông tư 65/2020/TT-BCA ngày 19/06/2020, của Bộ Công an “Quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung và quy trình tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính về giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông” (*), có hiệu lực từ ngày 05/08/2020, trong Điều 8, Khoản 3 có đoạn:

“Trong trường hợp cấp bách để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội hoặc để ngăn chặn hậu quả thiệt hại cho xã hội đang xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra, Cảnh sát giao thông đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát được huy động phương tiện giao thông, phương tiện thông tin liên lạc, phương tiện khác của cơ quan, tổ chức, cá nhân và người đang điều khiển, sử dụng phương tiện đó. Việc huy động được thực hiện dưới hình thức yêu cầu trực tiếp hoặc bằng văn bản.”

Quy định trên cho thấy một số điểm không rõ ràng; trao cho Cảnh sát giao thông (CSGT) quyền hạn quá lớn mà thiếu sự kiểm soát, chế tài đề phòng sự tùy tiện, lợi dụng với mục đích không tốt; đồng thời lại coi nhẹ quyền sở hữu tài sản cá nhân (cả của nhà nước) và sự an toàn của người dân trong những trường hợp bị “huy động phương tiện”.

Thông tư này thay cho Thông tư 01/2016/TT-BCA ngày 04/01/2016 (*), trong đó tại Điều 5, Khoản 6 cũng có nội dung tương tự nêu trên; tuy nhiên có sự giới hạn hơn với quyền của CSGT, là việc “trưng dụng phương tiện” phải “theo quy định của pháp luật”, đồng thời không mở rộng ra quá nhiều mục đích của việc “huy động”, tới độ … “để bảo vệ an ninh quốc gia …” và được “yêu cầu trực tiếp”.

Xin nêu chi tiết một số điểm cần được xem lại, sửa đổi:

Việc “huy động phương tiện” là thế nào

Trường hợp “phương tiện” được CSGT nhắm tới để “huy động” có thể đang được sử dụng trong tình huống cấp bách của cá nhân, tổ chức, cơ quan, như xe cứu thương đang chở bệnh nhân cấp cứu, xe chở lãnh đạo cao cấp trên đường công tác khẩn, … thì sẽ xảy ra xung đột lợi ích mà khó có văn bản pháp luật nào định rõ trường hợp nào thì quan trọng hơn, phải được ưu tiên hơn.

“Phương tiện khác” ngoài xe cộ, điện thoại, thì có giới hạn nào cho chữ “khác”, hay là bất cứ thứ gì, kể cả nhà ở, công xưởng, trụ sở kinh doanh, thậm chí vũ khí của quân nhân, …

Hãy thử tưởng tượng một ngày nào đó, bất chợt có anh CSGT vào nhà, khách sạn, yêu cầu miệng cần trưng dụng toàn bộ nhà trong vài ngày để … rình nhóm đua xe, các đêm tới có thể qua đây; hay rình một chiếc xe nghi chở ma túy sẽ đi qua. Không lẽ người chủ phải chấp hành vô điều kiện? Còn trường hợp CSGT đòi “mượn” một cây AK47 của một quân nhân đang đứng gác, thì chắc chắn sẽ không được chấp nhận rồi.

Việc “mượn” là vô thời hạn, không có sự giám sát của chủ phương tiện hay sao? Không quy định rõ, dễ nảy sinh tùy tiện, gây xáo trộn cuộc sống của người dân, ảnh hưởng công việc của cơ quan, tổ chức bị “huy động phương tiện”.

Có sự xác thực tối thiểu cho việc “huy động” hay không? Nếu không, dễ nảy sinh tranh chấp sau đó nếu xảy ra sự cố. Ví như CSGT phải trình đầy đủ giấy tờ cá nhân để người dân được rõ, yên tâm, và được ghi lại (vào giấy, chụp/ghi âm, hình) việc “huy động” đó.

“Phương tiện khác” thì phải thế nào?

Ở đây đã mở rộng quyền hạn cho CSGT tới vô hạn, nằm ngoài chức năng nhiệm vụ của lực lượng này.

Vì vậy, Thông tư cần nêu rõ, trong những trường hợp việc “huy động” những “phương tiện” không phải là xe cộ, vụ việc không liên quan hoạt động giao thông đường bộ, thì phải có sự phối hợp của các lực lượng bảo vệ pháp luật tương ứng (như cảnh sát hình sự, quản lý thị trường, hải quan). Nếu không, sẽ dễ dẫn tới lạm quyền quá mức.

Thiếu chế tài cho các hành vi lạm quyền

Nội dung Thông tư đặt nặng quyền hạn cho CSGT, mà không coi trọng quyền của người, tổ chức, cơ quan có phương tiện bị “huy động”, nên hoàn toàn không thể hiện biện pháp ngăn chặn những trường hợp lạm quyền. (Liệu có bao nhiêu lực lượng công quyền, khoài CSGT, đã và sẽ được “huy động phương tiện” của dân?)

Hình minh hoạ. Cảnh sát giao thông dừng những người lái xe máy trên đường phố ở TP Hồ Chí Minh hôm 15/12/2007
Hình minh hoạ. Cảnh sát giao thông dừng những người lái xe máy trên đường phố ở TP Hồ Chí Minh hôm 15/12/2007 Reuters

Thay vào đó, để tránh tình trạng CSGT trưng dụng phương tiện của dân không đúng mục đích, quá mức cần thiết, tận dụng cho việc riêng v.v.. thì cần có chế tài pháp luật cụ thể, không chỉ xử lý nội bộ (nhắc nhở, kiểm điểm). Như vậy mới công bằng với người dân một khi nếu không chấp hành đòi hỏi “huy động” đó, lại rất dễ bị quy tội “chống người thi hành công vụ”, hay tương tự.

Coi nhẹ sự an toàn cho người dân khi bị “huy động phương tiện”

Thông tư đã không đề phòng tình huống có kẻ gian (ngoài xã hội, trong chính ngành công an) lợi dụng để chiếm đoạt tài sản của dân, tổ chức, cơ quan, hoặc lợi dung phương tiện để hoạt động tội phạm.

Muốn tránh xảy ra khả năng này, đồng thời vẫn có thể đảm bảo cho tình huống cấp thiết khi CSGT thi hành công vụ, ngoài yêu cầu xuất trình giấy tờ, có văn bản xác nhận việc “huy động” như nêu trên, cần có thêm quy định CSGT phải đang tuần tra trên phương tiện mô tô, ô tô đặc chủng, phải để người bị “huy động phương tiện” gọi điện trực tiếp cho cấp chỉ huy của CSGT đó, v.v..

Ngoài ra, cũng cần có điều khoản quy định trong trường hợp phương tiện được huy động bị hỏng, mất, thì cơ quan công an phải có trách nhiệm bồi thường ra sao.

Thiếu hình thức phổ biến nội dung quy định cho người dân

Do đây là điểm quan trọng liên quan tới đời sống người dân (không chỉ người tham gia giao thông), đến cả nhiều tổ chức, cơ quan nên không thể đơn giản chỉ đưa toàn bộ Thông tư lên trang web Bộ Công an, rồi vài tờ báo thông tin sơ sài.

Nhiều năm qua, có thể vì thiếu biện pháp phổ biến rộng rãi nên cũng đã phần nào “trói tay” CSGT trong những tình huống thực sự cấp bách. Nhiều trường hợp chiến sĩ CSGT đã phải liều mình bám vào nắp ca-pô xe vi phạm, dẫn đến bị tai nạn đáng tiếc, thay vì có thể trưng dụng xe của người dân để truy đuổi.

Muốn có sự hợp tác tích cực từ người dân, đồng thời tôn trọng quyền lợi của dân, tổ chức, cơ quan khác, cần có các biện pháp phổ biến thông tin một cách bài bản. Ví dụ: ngoài việc sửa sớm Thông tư, cần có văn bản của Cục Cảnh sát giao thông giải thích chi tiết Điều 8, Khoản 3 nói trên. Văn bản này được từng đơn vị, cá nhân CSGT lưu giữ, cung cấp bằng nhiều hình thức cho người dân, người tham gia giao thông.

Cuối cùng, là đề phòng xung đột với các văn bản pháp quy khác

Trước hết là Bộ luật Dân sự, cơ quan soạn thảo Thông tư cần rà soát kỹ, để không xảy ra những kiện tụng không cần thiết, gây phiền phức cho dân, tốn kém cho nhà nước, ức chế cho CSGT khi cần “huy động phương tiện” phục vụ công tác cấp thiết.

Hà Nội, ngày 04/08/2020

Nguyễn Hữu Vinh (Ba Sàm)

Cử nhân Luật, cựu Thiếu tá an ninh, Bộ Công an

--

* Ghi chú:

- Thông tư 65/2020/TT-BCA

https://thuvienphapluat.vn/van-ban/vi-pham-hanh-chinh/Thong-tu-65-2020-TT-BCA-quy-trinh-tuan-tra-xu-ly-vi-pham-hanh-chinh-ve-giao-thong-duong-bo-427300.aspx

- Thông tư 01/2016/TT-BCA

https://thuvienphapluat.vn/van-ban/bo-may-hanh-chinh/thong-tu-01-2016-tt-bca-nhiem-vu-quyen-han-hinh-thuc-noi-dung-tuan-tra-kiem-soat-giao-thong-duong-bo-301387.aspx

* Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do

“Chính quyền Việt Nam ‘hình sự hóa’ quyền tự do nguôn luận của người dân”
công bó:
Tiêu đề: Một bài xã luận, vừa được đăng tải trên báo chính thống Nhà nước vào cuối tháng 7, xoay quanh nội dung Việt Nam “bảo đảm tự do ngôn luận”, nhưng “không cổ súy ngôn luận tự do”, gây chú ý dư luận trong và ngoài nước.

“Tự do ngôn luận” và “Ngôn luận tự do”

Tác giả Thiện Văn của bài viết có nhan đề “Bảo đảm tự do ngôn luận, chứ không cổ súy ngôn luận tự do”, đăng trên báo mạng Vietnamnet.vn, hôm 31/7, đã trưng dẫn các bằng chứng xác nhận rằng Việt Nam trong nhiều thập niên kiên trì và nỗ lực thực hiện các giải pháp nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận cho người dân.

Tác giả Thiện Văn nhắc lại Quốc hội khóa 1 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cách nay 74 năm đã thông qua Hiến pháp, trong đó Điều 10 hiến định “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận; tự do xuất bản; tự do tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng; tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”.

Điều đáng chú ý mà tác giả Thiện Văn chỉ ra là quyền tự do ngôn luận cho công dân trong Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được ra đời sớm hơn 2 năm so với bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc năm 1948.

Bên cạnh đó, bài viết còn đề cập đến Luật Tiếp cận thông tin và Luật Báo chí được Quốc hội Việt Nam ban hành năm 2016, có những quy định cụ thể để đảm bảo quyền tự do ngôn luận. Chẳng hạn như Điều 11 Luật Báo chí 2016 quy định công dân Việt Nam được quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân.

Tôi rất tiếc về bài báo đó. Hình như tác giả không hiểu rõ về ngữ pháp tiếng Việt, mà họ đã lẫn lộn về ‘tự do ngôn luận’ và ‘ngôn luận tự do’. Họ đã lầm lẫn trong phép đảo ngữ. Thứ hai, nếu ‘tự do ngôn luận’ và ‘ngôn luận tự do’ là hai khái niệm hoàn toàn khác biệt thì người đưa ra khái niệm đó, muốn sử dụng thì trước tiên phải định nghĩa rõ ràng sự khác biệt. Đó là hai điểm quan trọng nhất. Như vậy, kể cả về văn phạm tiếng Việt và kể cả về khái niệm mới thì tác giả đều không đạt được. Do đó, bài báo này rơi vào phép ngụy biện mang tên là ‘lý lẽ ngờ nghệch'
-Blogger Nguyễn Ngọc Già

Mặc dù vậy, tác giả Thiện Văn nhấn mạnh rằng quyền tự do ngôn luận bị giới hạn, không được cổ súy ngôn luận tự do, muốn nói gì là nói bởi vì không có quyền tự do nào là tuyệt đối, chỉ mang tính tương đối mà thôi. Do đó, tác giả Thiện Văn lập luận rằng quyền tự do ngôn luận được tuyệt đối, vô giới hạn, vô chính phủ sẽ dẫn đến tình trạng mất kiểm soát, gây ra rối loạn xã hội.

Bài báo còn dẫn chứng Điều 11, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của nước Pháp và Khoản 2, Điều 29 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 quy định về trách nhiệm và những giới hạn do luật pháp đặt ra nhằm bảo đảm những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng.

Blogger Nguyễn Ngọc Già đã có một bài viết phản biện đăng trên trang Blog của RFA, một ngày sau bài “Bảo đảm tự do ngôn luận, chứ không cổ súy ngôn luận tự do” của tác giả Thiện Văn được phổ biến.

Blogger Nguyễn Ngọc Già nhận định bài báo này gây ồn ào trên mạng xã hội vì cách dùng chữ nghĩa mà ông cho là “không giống ai”.

Vào tối ngày 4/8, blogger Nguyễn Ngọc Già giải thích thêm liên quan nhận định của ông về bài viết của tác giả Thiện Văn:

“Tôi rất tiếc về bài báo đó. Hình như tác giả không hiểu rõ về ngữ pháp tiếng Việt, mà họ đã lẫn lộn về ‘tự do ngôn luận’ và ‘ngôn luận tự do’. Họ đã lầm lẫn trong phép đảo ngữ.

Thứ hai, nếu ‘tự do ngôn luận’ và ‘ngôn luận tự do’ là hai khái niệm hoàn toàn khác biệt thì người đưa ra khái niệm đó, muốn sử dụng thì trước tiên phải định nghĩa rõ ràng sự khác biệt.

Đó là hai điểm quan trọng nhất. Như vậy, kể cả về văn phạm tiếng Việt và kể cả về khái niệm mới thì tác giả đều không đạt được. Do đó, bài báo này rơi vào phép ngụy biện mang tên là ‘lý lẽ ngờ nghệch’.”

hoaai0526
Nhà văn Phạm Thành, nhà báo Nguyễn Tường Thụy, nhà thơ Trần Đức Thạch (bìa trái sang). RFA
Thực tiễn “tự do ngôn luận” tại Việt Nam

Luật sư Nguyễn Văn Đài, trong cùng ngày 4/8, lên tiếng với RFA rằng bài viết của tác giả Thiện Văn với cách sử dụng ngôn từ “đảo ngữ” nhằm mục đích “lập lờ đánh lận con đen” để người dân trong nước hiểu sai về bản chất của quyền tự do ngôn luận và thực hiện quyền tự do ngôn luận của họ theo ý muốn của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Trước hết, Luật sư Nguyễn Văn Đài nói về bản chất thật sự của quyền tự do ngôn luận là gì:

“Bản chất của quyền tự do ngôn luận cần phải được hiểu là để cho người dân khi họ có sự bất bình hay có những điều không hài lòng với Đảng lãnh đạo và Chính phủ thì họ có quyền tự do bày tỏ nỗi bức xúc đó qua phương tiện báo chí hay phương tiện xã hội. Một khi quyền tự do ngôn luận được ghi trong Hiến pháp để bảo vệ cái quyền đó thì có nghĩa là đã chấp nhận sự đối lập về quan điểm, về cách nhìn và suy nghĩ tư tưởng của người dân với chính quyền rồi. Cho nên mới cần Hiến pháp để bảo vệ những quyền đó. Ngay như Luật Báo chí của Việt Nam, mặc dù không nói thẳng ra nhưng cũng định nghĩa rõ ràng là quyền tự do ngôn luận và quyền tự do báo chí là người dân được tự do bày tỏ quan điểm của họ về mọi vấn đề như kinh tế, chính trị, xã hội…ở trong nước và quốc tế. Quyền tự do ngôn luận không đề cập đến nói tốt hay nói xấu, phê bình hay chỉ trích nhưng mục đích chính là để cho người dân bày tỏ những bức xúc hay những quan điểm chính trị khác biệt đối với nhà cầm quyền.”

Thế nhưng, Luật sư Nguyễn Văn Đài khẳng định quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam được Chính quyền Việt Nam mặc định với bản chất là công dân Việt Nam hay công dân bất kỳ của một quốc gia nào dùng quyền tự do ngôn luận để ca ngợi Đảng CSVN và ca ngợi Chính phủ Hà Nội.  Việc ca ngợi, tung hô đó, thậm chí còn được nhận tiền, qua đơn cử lực lượng hàng trăm dư luận viên hàng ngày dốc hết sức lực để làm công việc giống như tác giả Thiện Văn thể hiện qua bài viết “Bảo đảm tự do ngôn luận, chứ không cổ súy ngôn luận tự do”.

Ví dụ như nhà văn Phạm Thành đã bị bắt vì có những bài viết chỉ trích trực tiếp ông Nguyễn Phú Trọng, về phương diện cá nhân. Đáng lẽ ra ông Nguyễn Phú Trọng cho rằng ông Phạm Thành xúc phạm thì ông Trọng có quyền kiện ông Phạm Thành ra tòa, để xét xử ông Phạm Thành vi phạm pháp luật hay không. Nhưng thực tế, ông Nguyễn Phú Trọng không kiện mà cơ quan an ninh nhân danh Nhà nước và bắt ông Thành và truy tố dưới tội danh ‘tuyên truyền chống Nhà nước’, bởi vì ông Nguyễn Phú Trọng không phải là một công dân bình thường mà trên cương vị là Chủ tịch nước và Tổng Bí thư
-Luật sư Nguyễn Văn Đài

Luật sư Nguyễn Văn Đài nói thêm về quyền tự do ngôn luận phải được hiểu là tự do không bị giới hạn. Tuy nhiên, quyền tự do ngôn luận mà tác giả Thiện Văn trưng dẫn Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền 1948 bị gới hạn là giữa cá nhân với nhau. Bởi vì các nhân cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật nên không thể dùng quyền tự do ngôn luận để xúc phạm người khác. Và một cá nhân nào làm như vậy thì phải chịu chế tài của luật pháp.

“Ví dụ như nhà văn Phạm Thành đã bị bắt vì có những bài viết chỉ trích trực tiếp ông Nguyễn Phú Trọng, về phương diện cá nhân. Đáng lẽ ra ông Nguyễn Phú Trọng cho rằng ông Phạm Thành xúc phạm thì ông Trọng có quyền kiện ông Phạm Thành ra tòa, để xét xử ông Phạm Thành vi phạm pháp luật hay không. Nhưng thực tế, ông Nguyễn Phú Trọng không kiện mà cơ quan an ninh nhân danh Nhà nước và bắt ông Thành và truy tố dưới tội danh ‘tuyên truyền chống Nhà nước’, bởi vì ông Nguyễn Phú Trọng không phải là một công dân bình thường mà trên cương vị là Chủ tịch nước và Tổng Bí thư.”

Vị luật sư nhân quyền bị Chính phủ Hà Nội tống xuất hồi năm 2018, ông Nguyễn Văn Đài, nhấn mạnh rằng tại các nước thực hành theo đúng bản chất của tự do ngôn luận thì bất kỳ một công dân nào cũng đều có quyền sử dụng quyền tự do ngôn luận của họ để phê bình, chỉ trích đảng và thực thể cá nhân nào giữ cương vị từ trung ương đến địa phương và hưởng lương từ tiền thuế của dân. Điều đó không giới hạn.

Luật sư Nguyễn Văn Đài và blogger Nguyễn Ngọc Già đồng ghi nhận bài viết của tác giả Thiện Văn được phổ biến trong cùng ngày diễn ra phiên tòa xét xử 8 thành viên trong nhóm Hiến Pháp, bị tuyên phạt tổng cộng 40 năm và 6 tháng tù giam với tội danh "phá rối an ninh" theo khoản 1, Điều 118 Bộ luật Hình sự 2015.

Cả hai luật sư Nguyễn Văn Đài và blogger Nguyễn Ngọc Già cùng quan điểm cho rằng bài báo gửi đi một thông điệp của Chính quyền Việt Nam khẳng định thêm sẽ tiếp tục thắt chặt và bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận của người dân.

708b20ad-920e-4cdd-9c58-7564e798caa0
Ảnh minh họa. Áp phích Phản đối Luật An Ninh Mạng Courtesy: Amnesty International
Nhà nước Việt Nam gia tăng kiểm soát

Không chỉ người dân trong nước, mà Chính quyền Việt Nam còn gia tăng kiểm soát tự do truyền thông của người Việt ở hải ngoại. Đó là nhận định của nhà báo Lê Trung Khoa, chủ tờ thoibao.de, ở Đức.

“Tôi thấy rằng tình hình tự do ngôn luận ở trong nước càng ngày càng tồi tệ. Cụ thể qua bằng chứng ngày càng có nhiều những cuộc đánh phá từ trong nước ra đến nước ngoài. Ngoài ra, còn có thể thấy các vụ bắt bớ diễn ra ngày càng nhiều. Nhiều người viết lách như Phạm Chí Dũng và các blogger, facebooker…trong thời gian vừa qua bị bắt giữ và bị truy tố các tội danh cực kỳ nặng và nhiều năm tù. Điều đó rõ ràng cho thấy sự vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do biểu đạt của người dân được ghi trong Hiến pháp.”

Có thể nói là một “nạn nhân” kể từ khi nhà báo Lê Trung Khoa chuyển tải thông tin về mật vụ Việt Nam sang Đức bắt cóc nhân vật Trịnh Xuân Thanh hồi tháng 7/2017. Bản thân ông Lê Trung Khoa và tờ báo do ông chủ biên liên tục bị đánh phá và hăm dọa từ đó cho đến hiện tại. Nhà báo Lê Trung Khoa bày tỏ:

Truyền thông hiện nay gần như là một mặt trận rất quan trọng đối với Việt Nam theo xu hướng phát triển văn minh hơn. Nhưng, Đảng CSVN không muốn điều này vì sự độc tôn về truyền thông và báo chí của họ bị mất đi khá lớn vì người dân đọc nhiều tin tức từ mạng xã hội và báo chí hải ngoại hơn là từ báo chí Nhà nước, chỉ mang tính tham khảo mà thôi. Họ nhìn nhận ra điều đó sẽ nguy hiểm cho sự lãnh đạo độc tài của họ, cho nên họ tìm mọi cách để bịt miệng bằng các việc bắt bớ, giam cầm, đe dọa không chỉ những người trong nước mà ngay cả người Việt Nam ở nước ngoài
-Nhà báo Lê Trung Khoa

“Truyền thông hiện nay gần như là một mặt trận rất quan trọng đối với Việt Nam theo xu hướng phát triển văn minh hơn. Nhưng, Đảng CSVN không muốn điều này vì sự độc tôn về truyền thông và báo chí của họ bị mất đi khá lớn vì người dân đọc nhiều tin tức từ mạng xã hội và báo chí hải ngoại hơn là từ báo chí Nhà nước, chỉ mang tính tham khảo mà thôi. Họ nhìn nhận ra điều đó sẽ nguy hiểm cho sự lãnh đạo độc tài của họ, cho nên họ tìm mọi cách để bịt miệng bằng các việc bắt bớ, giam cầm, đe dọa không chỉ những người trong nước mà ngay cả người Việt Nam ở nước ngoài, bằng mọi phương diện; gồm trực tiếp gặp gỡ, trao đổi như đại diện Đại Sứ quán Việt Nam gặp tôi yêu cầu đăng tải thong tin giảm nhẹ hơn…và cũng có hình thức khác là hăm dọa, như vụ Sơn Điền là một người Việt Nam đã dọa tôi qua ám hiệu ‘mời ăn tiết canh ngan’, tức là cắt cổ chẳng hạn. Tất nhiên là tôi đang sống ở một quốc gia pháp quyền thì tôi có quyền phản ánh những việc đấy với cơ quan bảo vệ pháp luật và họ sẽ làm việc thôi.”

Vì sinh sống ở Đức, nhà báo Lê Trung Khoa và luật sư Nguyễn Văn Đài được các cơ quan thực thi pháp luật bảo vệ khi họ thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình.

Còn tại Việt Nam, là một công dân phải chịu án tù do thể hiện chính kiến, blogger Nguyễn Ngọc Già khẳng định rằng “Nhà cầm quyền Việt Nam đã hình sự hóa quyền tự do ngôn luận của người dân, mặc dù trên lý thuyết theo Hiếp pháp và luật pháp là có”. Và, minh chứng rõ ràng nhất là Việt Nam bị xếp hạng gần cuối bảng về tự do báo chí, tự do truyền thông cũng như điển hình mới nhất qua việc bắt giữ một loạt những người cầm bút bao gồm tiến sĩ Phạm Chí Dũng, nhà văn Phạm Thành, nhà thơ Trần Đức Thạch và nhà báo Nguyễn Tường Thụy…

Xử lý lãnh đạo bố trí người thân không đủ uy tín: quyết tâm hay hô hào?
công bó:
Tiêu đề: Chính phủ Hà Nội thống nhất sẽ xử lý lãnh đạo bố trí người thân không đủ uy tín. Sau đó 1 ngày, Trung ương có chỉ thị tỉnh Bắc Ninh giải trình việc chỉ định Bí thư thành ủy là con trai của Bí thư Tỉnh ủy đương nhiệm.

Các đại biểu đảng cộng sản Việt Nam trong hội nghị giao ban trực tuyến 70 điểm cầu toàn ngành Tổ chức xây dựng Đảng ngày 3/8 đã thống nhất sẽ xử lý những cán bộ bố trí người nhà không đủ uy tín, quy trình thiếu dân chủ để ‘hợp lý hóa ý đồ cá nhân’.

Quyết định vừa nêu được đưa ra nhằm tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương, nghị quyết, quy định của Trung ương về công tác cán bộ, nhất là chuẩn bị nhân sự cấp ủy.

Theo đó, người đứng đầu các địa phương phải thực hiện đúng quy định, khách quan, chấp hành nghiêm nguyên tắc tổ chức và hoạt động, các quy chế, quy định của Đảng trong quá trình giới thiệu, lựa chọn nhân sự.

Báo trong nước dẫn nội dung cuộc họp cho biết Trưởng ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh phải bảo đảm dân chủ, công khai, đúng người, đúng việc; tránh tình trạng làm đúng quy trình, quy định nhưng không chọn đúng người, đúng việc.

Trao đổi với RFA tối 4/8, Tiến sĩ Nguyễn Quang A, nhà hoạt động xã hội dân sự từ Hà Nội nhận xét về nội dung vừa nêu như sau:

“Đảng muốn lãnh đạo thì phải chọn những người tiêu biểu, không có những sai lầm, nhất là tham nhũng. Đó là ý định thật chứ không phải để nói cho vui nhưng không biết có làm được hay không vì chính bản thân hệ thống này đẻ ra những con người đó và việc làm này không khả thi.”

Còn theo Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó chủ nhiệm Văn Phòng Quốc Hội cho rằng quyết tâm này đã có từ rất lâu chứ không phải mới đây:

“Chuyện cùng làm, cùng phân công nhau thì họ cũng đã quen biết thì giải quyết nó. Bên cạnh đó thì người nào thường ủng hộ nhau trong cùng chủ trương, hoàn toàn khách quan, chỉ dựa vào việc uy tín không mà ở Việt Nam muốn có uy tín thì không có cơ chế cho nhân dân tham gia đâu mà có? Nên chuyện đó kì đại hội, bầu cử nào cũng nói.”

Mới đây nhất, Ban Tổ chức trung ương vào ngày 4/8 đã yêu cầu cấp có thẩm quyền tỉnh Bắc Ninh xem xét việc điều động, chỉ định ông Nguyễn Nhân Chinh làm Bí thư Thành ủy Bắc Ninh, trong khi bố ông Chinh là ông Nguyễn Nhân Chiến hiện vẫn đương chức Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh.

Cụ thể, Thành ủy Bắc Ninh vào ngày 22/7 vừa qua đã tổ chức hội nghị công bố quyết định của Ban thường vụ Tỉnh ủy Bắc Ninh điều động, chỉ định ông Nguyễn Nhân Chinh, bí thư Tỉnh đoàn Bắc Ninh, tham gia Ban chấp hành, Ban Thường vụ và giữ chức Bí thư thành ủy Bắc Ninh nhiệm kỳ 2020-2025.

Việc điều động, chỉ định ông Nguyễn Nhân Chinh giữ chức Bí thư Thành ủy Bắc Ninh được nói để thay cho ông Vương Quốc Tuấn do ông Tuấn vừa được Hội đồng nhân dân tỉnh bầu bổ sung làm Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Nhà báo Nguyễn Vũ Bình, từng làm cho Tạp chí Cộng sản đưa ra quan điểm về sự việc vừa nêu như sau:

“Tình trạng đó là phổ biến chứ không phải ít. Người ta có câu nhất hậu duệ, nhì tiền tệ, ba quan hệ, tức hậu duệ là cái quan trọng nhất trong sắp xếp bố trí nhân sự. Người ta bàn bạc để có cách thức đưa người thân, người nhà, con cháu vào. Thực ra những quy định đó cũng có hết nhưng người ta áp dụng không chuẩn và lạm dụng quyền người ta nên khi mạng xã hội lên tiếng thì người ta mới biết rồi xử lý. Ở trên chỉ biết ra những quy định còn ở dưới làm thế nào thì khi có phản ánh lên người ta mới biết, còn không phản ánh thì không biết và không xử lý. Và khi xử lý nếu vi phạm quy định nào đó thì người ta xử lý thật.”

Luật sư Trần Quốc Thuận cũng cho rằng lâu nay tình trạng bố trí người nhà không đủ uy tín, quy trình thiếu dân chủ vẫn luôn diễn ra bằng cách này hay cách khác. Tuy nhiên, các cán bộ để tránh lộ liễu sẽ tổ chức đưa khéo, không để người thân cùng đơn vị mà luân chuyển lẩn quẩn trong phạm vi có thể kiểm soát:

“Con ông cháu cha, quen biết… chuyện đó khó tránh khỏi. Người ta không nói ra nhưng khi làm thì làm sao tránh chuyện đó được. Nên người ta chỉ mong ở Việt Nam có cuộc tranh cử trong nội bộ thôi mà dân chủ thật sự, hy vọng chuyện đó mới hạn chế được còn bây giờ hầu như bầu nhân sự cấp dưới mà cấp trên đã duyệt trước rồi. Như vậy làm sao tránh khỏi những người trong nhóm lợi ích, bà con, quen biết được. Cơ chế này làm như vậy đã quen, bây giờ muốn có gì khác thì phải có thời gian.”

Báo Tuổi Trẻ Online trong ngày 4/8 có bài viết đăng tải cho biết đã liên hệ qua điện thoại với trưởng Ban tổ chức Tỉnh ủy Bắc Ninh Nguyễn Văn Hùng để hỏi về quy trình công tác nhân sự đối với tân Bí thư Thành ủy Bắc Ninh Nguyễn Nhân Chinh. Theo đó, ông Hùng đã trả lời rằng việc chỉ định ông Chinh “không vướng quy định nào của Đảng cả”.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Quang A, phát biểu của trưởng Ban tổ chức Tỉnh ủy Bắc Ninh đã khẳng định luật lệ ở Việt Nam không có giá trị:

“Vừa có một đại hội của thành phố, tại sao không để cho mức ấy bầu mà chỉ sau vài tuần lại chỉ định người khác, chỉ định đúng con mình? Tôi nghĩ nếu những sự việc nổi cộm như thế mà bảo là đúng quy trình, quy định của họ thì quy định của đảng phải vứt vào sọt rác. Vì những kiểu làm trắng trợn như thế mà vẫn đúng quy định thì quy định đó không ra gì, đương nhiên bản thân quy định đó là hỏng.”

Vẫn theo Tiến sĩ Nguyễn Quang A, thực sự những vấn đề vừa nêu đã được chính phủ Hà Nội nghiên cứu từ lâu. Ông cho rằng để giải quyết vấn đề này thực sự không khó nhưng câu hỏi được đặt ra là các lãnh đạo có dám làm hay không.

“Như những lần trước tôi nói về vấn đề liên quan đến quản trị, tham nhũng, đây chỉ là quyết tâm chính trị của họ có làm được không, còn chỉ nói thì không đi đến đâu được.”

Nhà báo Nguyễn Vũ Bình cũng đưa ra quan điểm cho rằng rất khó để thay đổi tình trạng bổ nhiệm người nhà, người thân trong bộ máy công quyền, đặc biệt đối với cơ chế như hiện nay.

Vì vậy, ông cho rằng việc này chỉ có thể giải quyết tận gốc nếu cho dân bầu, lúc bấy giờ thì lãnh đạo mới không thể can thiệp được.

Có thể nào đến giữa thế kỷ 21 Việt Nam thành nước phát triển theo định hướng XHCN?
công bó:
Tiêu đề: Một lãnh đạo Việt Nam khẳng định đến giữa thế kỷ 21, Việt Nam trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ sở nào cho khẳng định đó?

Khát vọng của đảng cộng sản

Cuối tháng 7 vừa qua, tại hội nghị gặp mặt đại biểu trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ nhân kỷ niệm 90 năm Ngày truyền thống ngành tuyên giáo, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng khẳng định, đại hội 13 của đảng là đại hội thể hiện ý chí toàn dân tộc với khát vọng đến giữa thế kỷ 21, Việt Nam trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Theo ông Vượng, Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới với đội ngũ trí thức, khoa học, văn nghệ sĩ trên các lĩnh vực đã góp phần đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế, kém phát triển và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Tiến sĩ kinh tế Nguyễn Trí Hiếu nhận định:

“Cái mô hình của Marx-Lenin không phải là mô hình chỉ có về mặt kinh tế mà đây là mô hình phát triển của cả xã hội, tức là về tất cả mọi mặt từ chính trị, quân sự, xã hội, văn hóa và kinh tế.

Hiến pháp Việt Nam quy định kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Định hướng XHCN đây có nghĩa là Việt Nam quyết tâm đi đến con đường XHCN theo Marx-Lenin. Việt Nam cho rằng họ đang trong thời kỳ quá độ tiến lên XHCN. Và định hướng XHCN là đích cuối cùng mà Việt Nam muốn đến. Từ trước đến giờ Việt Nam không bao giờ muốn thay đổi điều đó.”

Cái mô hình của Marx-Lenin không phải là mô hình chỉ có về mặt kinh tế mà đây là mô hình phát triển của cả xã hội, tức là về tất cả mọi mặt từ chính trị, quân sự, xã hội, văn hóa và kinh tế. Từ trước đến giờ Việt Nam không bao giờ muốn thay đổi điều đó. - Tiến sĩ kinh tế Nguyễn Trí Hiếu

Trên nền tảng lý luận Marx-Lenin, Nhà nước xã hội chủ nghĩa có đặc điểm thiết lập và đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; đảng cộng sản là lực lượng lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội; tất cả các cơ quan nhà nước đều được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ; mục đích của nhà nước xã hội chủ nghĩa là xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh…

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng, nếu Việt Nam thực hiện được những tiêu chí như dân giàu nước mạnh, phát triển hệ thống dân chủ ở Việt Nam sao cho xã hội phát triển công bằng hơn, khoảng cách giàu nghèo thu hẹp lại và cuộc sống ngày càng văn minh hơn thì đó là những cái tốt đẹp mà Việt Nam nên và cần thực hiện. Với phát biểu của Thường trực Ban Bí thư, bà Lan cho biết:

“Trước đây tôi có tham gia cùng các chuyên gia của Việt Nam và các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới xây dựng báo cáo Việt Nam 2035, tính tới tương lai Việt Nam đến 2035, thời điểm thực hiện là 2015, tức là 20 năm Việt Nam như thế nào. Chúng tôi đặt ta mục tiêu là Việt Nam đến năm 2035 có thể trở thành một nước thu nhập trung bình ở mức cao. Sau đó tiếp tục phấn đấu 10, 15 năm nữa để trở thành nước giàu có.”

Việt Nam là một nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa. Đây là thể chế chính trị mà được các nước có đảng cộng sản nắm quyền lãnh đạo tuyên bố sẽ đưa đất nước mình theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Từ năm 1975, nhà nước Việt Nam quyết tâm thực hiện xã hội chủ nghĩa nhưng cho đến bây giờ có thể nói mục tiêu đó hoàn toàn thất bại. Chính ông Tổng bí thư, Chủ tịch Việt Nam, ông Nguyễn Phú Trọng từng thốt lên rằng, đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa!

PGS-TS Đinh Trọng Thịnh nhận định việc phát triển đúng theo định hướng xã hội chủ nghĩa là điều nên làm vì mục tiêu dân giàu nước mạnh là điều tất cả các quốc gia đều hướng tới:

“Thật ra ở đây, nếu mà theo cái định hướng như vậy thì người ta cũng nói nhiều đến kinh tế thị trường xã hội mà ở một số quốc gia châu Âu người ta đã có. Tức là mọi người có thể sống một cách tương đối tốt theo một cơ chế được hiểu là có bàn tay điều chỉnh một cách tổng thể của Nhà nước.

Như vậy việc phân phối có thể vẫn không có sự cân bằng vì nó theo kinh tế thị trường, thế nhưng mà những người yếm thế, những người không có tài sản, những người chỉ có sức lao động thôi cũng có thể được hưởng cuộc sống không quá tệ. Điều này tôi cho rằng nó cũng là điều phù hợp thôi để tất cả mọi công dân không ai bị bỏ lại phía sau.”

Cần phải có kinh tế thị trường

Một gánh hàng rong trước một cửa hàng vàng bạc ở Hà Nội hôm 29/7/2020.
Một gánh hàng rong trước một cửa hàng vàng bạc ở Hà Nội hôm 29/7/2020. AFP

Kinh tế và chính trị là hai lĩnh vực cơ bản và liên quan đến nhau trong đời sống xã hội, có tác động trực tiếp đến những hoạt động cơ bản của con người cũng như quá trình phát triển của xã hội.

Do đó, muốn xã hội phát triển thì kinh tế phải phát triển. Muốn kinh tế phát triển thì Việt Nam phải có nền kinh tế thị trường hoàn thiện, đúng nghĩa. Đó là nhận định của các chuyên gia kinh tế với RFA.

Trước tiên là chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan:

“Trước nay lãnh đạo Việt Nam vẫn nói là Việt Nam sẽ phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Việt Nam về cơ bản vẫn là một nước đang chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường. Như vậy mới tạo điều kiện cho kinh tế Việt Nam phát triển và cạnh tranh. Đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập rất mạnh mẽ vào các bền kinh tế thị trường cao cấp toàn cầu.

Thế còn về định hướng XHCN thì như lãnh đạo Việt Nam giải thích qua mấy kỳ đại hội đảng, thì đều nói đó là định hướng để xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nếu định hướng XHCN theo những tiêu chí đó thì rất tốt đẹp và cần phải thực hiện. Và tiền đề để thực hiện dân giàu nước mạnh thì phải có nền kinh tế thị trường tốt.”

Theo bà Phạm Chi Lan, ngoài việc hội nhập nhiều, thu hút đầu tư nước ngoài nhiều thì Việt Nam cũng cần thúc đẩy đề tăng cường nội lực. Bởi nếu tính về GDP của Việt Nam hiện nay thì đóng góp của đầu tư nước ngoài vẫn là rất lớn cho nên cái phần vốn hoặc lãi chuyển ra ngoài hàng năm chiếm tỷ lệ không nhỏ trong thu nhập của Việt Nam. Nếu tăng cường nội lực của Việt Nam, có nghĩa là những nguồn thu mà Việt Nam đạt được sẽ ở lại Việt Nam nhiều hơn. Điều đó sẽ mang lại cuộc sống tốt đẹp cho người dân Việt Nam.

Muốn cho dân giàu nước mạnh thì Việt Nam phải tiến đến nền kinh tế thị trường thực thụ. Tức là phải có sự cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế một cách bình đẳng, không có sự độc quyền của bất cứ một đơn vị, bất cứ một thành phần nào trong xã hội. - Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu

Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu cũng có cùng nhận định khi đánh giá điều kiện cơ bản mà Việt Nam cần thực hiện để phát triển đất nước:

“Muốn cho dân giàu nước mạnh thì Việt Nam phải tiến đến nền kinh tế thị trường thực thụ. Tức là phải có sự cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế một cách bình đẳng, không có sự độc quyền của bất cứ một đơn vị, bất cứ một thành phần nào trong xã hội. Đó là điều tốt cho dân tộc Việt Nam.”

Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà người mua và người bán tác động với nhau theo quy luật cung cầu. Nếu lượng cầu hàng hóa cao hơn lượng cung, thì giá cả hàng hóa sẽ tăng lên, mức lợi nhuận cũng tăng khuyến khích người sản xuất tăng lượng cung.

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là tên gọi mà đảng cộng sản Việt Nam đặt ra cho mô hình kinh tế hiện tại trong nước. Nền kinh tế này được mô tả là một nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, trong đó khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, với mục tiêu dài hạn là xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Tiến sĩ Nguyễn Trọng Thịnh nêu quan điểm của ông về việc phải thêm cái đuôi “định hướng XHCN”:

“Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế đang đi theo kinh tế thị trường. Người ta cố gắng tất cả các cách thức từ sở hữu đến các quan hệ quản lý đều đang theo hướng thị trường. Tuy nhiên, ở Việt Nam thì đảng cộng sản lãnh đạo và người ta mong muốn có xã hội chủ nghĩa. Tất nhiên XHCN này thì nó chưa có thực tế cho nên người ta chỉ hình dung rằng kinh tế thị trường mà không để cho tất cả mọi người có thể hoạt động một cách ‘quá thị trường’, nhà nước có thể quản lý để hạn chế những tác động không mong muốn của kinh tế thị trường.”

Theo ông Đinh Trọng Thịnh, phát triển theo định hướng XHCN thật ra cũng đi theo định hướng mà các nhà triết học trước đây đã nói nhiều. Tức là từ CNXH không tưởng, chủ nghĩa cộng sản cho đến cái CNXH trong thực tế. Đó là dần dần từng bước một đi lên ở mức phát triển xã hội mà trong đó mỗi cá thể có thể được thể hiện hết cái tài năng, năng lực của mình cũng như có ý kiến đóng góp, có quyền lợi và trách nhiệm đối với xã hội. Đây là cái mà cả xã hội loài người hướng đến từ nhiều nghìn năm nay rồi và người ta từng bước thực hiện.

Tuy nhiên, trong thực tế các nước cộng sản Đông Âu và Liên Xô cũ từng theo xu hướng này và họ thấy không thể tiếp tục nên đã từ bỏ và theo hướng kinh tế thị trường như các nước tư bản khác áp dụng.

 

Giải trí


 
 

Đăng nhập

Tên thành viên:

Mật mã:

Lưu nhớ



Quên mật mã?

ĐĂNG KÝ mới!
 
 

Sửa chữa

 
 

Chủ đề

 
 

Tìm kiếm